Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức kinh doanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức kinh doanh. Hiển thị tất cả bài đăng
"Công ty trong công ty" - Mô hình quản trị mới
Tác giả: Hoài Thanh
| Đăng:
Thứ Năm, 6 tháng 5, 2010
,chuyên đề:
Kiến thức kinh doanh
|
nhận xét (0)
Xu hướng chung và nổi bật trên thế giới hiện nay là các doanh nghiệp ngày càng gắn liền với nhau. Ranh giới giữa các doanh nghiệp không còn rõ ràng như trước kia. Ngoài những mô hình liên kết phổ biến như công ty liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh... thì mô hình tạm gọi là “công ty trong công ty” hiện đang rất thành công ở các nước phát triển.
Tuy có một vài điểm giống nhau nhưng đây không phải là mô hình tập đoàn kinh tế thông thường hay tổng công ty của Việt Nam. Thực tế, các công ty của mô hình này thường là những doanh nghiệp hoàn toàn độc lập và hoạt động trên những lĩnh vực khác biệt.
Ý tưởng chủ đạo của mô hình là hai (hay nhiều) doanh nghiệp độc lập nhưng thường xuyên có các giao dịch kinh tế với nhau thì có thể đặt một chi nhánh của công ty mình ngay trong công ty đối tác. Một vài ví dụ sau đây có thể mô tả rõ hơn.
Ở Montreal, Canada, Công ty UPS (chuyên về dịch vụ chuyển phát nhanh) có một chi nhánh đặt trong Công ty CAE (chuyên sản xuất các thiết bị huấn luyện dùng trong hàng không). Bảy nhân viên UPS được đưa qua làm việc toàn thời gian trong phòng phụ trách vận tải của CAE. Hàng ngày CAE có rất nhiều hàng hóa, tài liệu xuất và nhập khẩu qua UPS. Sự có mặt tại chỗ của UPS đã giúp tiết kiệm được rất nhiều chi phí do hạn chế tối đa những trục trặc phát sinh và chi phí thông tin liên lạc. Trên thực tế, chỉ riêng trong phòng vận tải của CAE còn có thêm ít nhất hai công ty nữa đặt chi nhánh ở đó.
Tuy chưa phổ biến nhưng ở Việt Nam cũng đã có khá nhiều các công ty hợp tác theo mô hình “công ty trong công ty”. Ví dụ thường thấy là các công ty như FPT, VDC cung cấp các giải pháp về công nghệ thông tin, cho thuê máy chủ và cử người đến làm việc thường trực tại các công ty khác. Hoặc một số hãng hàng không và công ty du lịch đã mở chi nhánh trong các công ty lớn có đông nhân viên để có thể tiếp thị và thu hút khách hàng tại chỗ.
Mô hình “công ty trong công ty” có thể được áp dụng rất linh hoạt. Một công ty ở trong một công ty khác có thể có riêng văn phòng với bảng hiệu, cũng có thể hoạt động gắn liền với công ty đối tác, gần như không có sự phân biệt giữa nhân viên của hai bên (trường hợp của UPS ở trong CAE hay FPT, VDC ở trong các công ty sản xuất kinh doanh). Cũng có thể không nhất thiết phải có nhiều người đến làm việc thường trực ở công ty đối tác mà ban đầu có thể chỉ một hai nhân viên, làm việc một vài ngày hay vài buổi trong tuần (đã có khá nhiều công ty trong nước đang thực hiện kiểu hợp tác này).
Mô hình có thể áp dụng không chỉ cho doanh nghiệp với doanh nghiệp mà cả cho doanh nghiệp với cơ quan nhà nước hay tổ chức phi lợi nhuận. Việc đặt một văn phòng của cơ quan kiểm dịch, thuế hay hải quan ở các doanh nghiệp lớn là điều cần thiết và có lợi cho cả doanh nghiệp và nhà nước nên rất đáng được triển khai rộng rãi.
Hai điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công mô hình “công ty trong công ty” là sự nhất trí giữa các bên về các điều lệ hợp tác và sự tin tưởng lẫn nhau. Riêng với các doanh nghiệp Việt Nam, thiết nghĩ cần thêm một điều kiện nữa là sự chuẩn hóa trong các quy trình làm việc. Bởi lẽ nếu không có sự chuẩn hóa và chuyên môn hóa trong công việc thì một công ty hoạt động một mình thôi đã “rối tinh rối mù” lên rồi, không thể nghĩ đến việc hợp tác “công ty trong công ty”.
Mô hình “công ty trong công ty” đem lại ba thuận lợi chính. Một là làm tăng sự linh hoạt và khả năng đáp ứng của các doanh nghiệp. Rõ ràng một công ty đơn lẻ không thể có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường bằng nhiều công ty liên kết với nhau. Sự liên kết cũng giúp làm tăng khả năng giải quyết các vấn đề phát sinh và qua đó giúp giảm thiểu nhiều chi phí. Thuận lợi thứ hai là nhờ hợp tác mà một công ty có thể sử dụng các nguồn thông tin, nguồn nhân lực và vật lực của nhau. Điều này rõ ràng mang lại khả năng cạnh tranh cao hơn cho các bên. Đặc biệt các doanh nghiệp Việt Nam nếu muốn cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, cần phải biết hợp lực với nhau. Thứ ba là sự hợp tác theo mô hình “công ty trong công ty” thường mang tính chất lâu dài và bền vững. Chính sự bền vững trong các quan hệ sẽ làm tăng sự ổn định của doanh nghiệp trước những biến động trong môi trường kinh doanh. Nhiều bè gỗ kết lại với nhau sẽ vượt qua được những con sóng lớn.
(Theo TBKTSG )
Xây dựng hình ảnh doanh nghiệp
Tác giả: Hoài Thanh
| Đăng: ,chuyên đề:
Kiến thức kinh doanh
|
nhận xét (0)
Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam ngày càng hòa nhập hơn với kinh tế thế giới, việc xây dựng hình ảnh doanh nghiệp đã và đang trở thành một vấn đề cấp thiết đối với các doanh nghiệp trong nước
Được xem là có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp trên thương trường, hình ảnh doanh nghiệp là sự tổng hòa của nhiều yếu tố: chất lượng sản phẩm, phong cách kinh doanh, văn hóa của doanh nghiệp cũng như các hoạt động truyền thông, quảng bá… Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhận thức về xây dựng hình ảnh doanh nghiệp hiện vẫn còn chưa được nhiều doanh nghiệp trong nước dành cho sự quan tâm đúng mức.
Vào chiều qua (13/5), Thời báo Kinh tế Việt Nam đã tổ chức cuộc tọa đàm mang chủ đề “Xây dựng hình ảnh doanh nghiệp”, nằm trong khuôn khổ Liên hoan Thương hiệu Việt Nam diễn ra từ ngày 13/5 đến 16/5 tại Trung tâm Triển lãm Giảng Võ (Hà Nội), do Thời báo Kinh tế Việt Nam chủ trì.
Tham dự cuộc tọa đàm có các diễn giả: ông Nguyễn Thế Quang, Anh hùng Lao động, Phó chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội; TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; GS. Đào Nguyên Cát, Tổng biên tập Thời báo Kinh tế Việt Nam; ông Dương Trung Quốc, Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tổng biên tập tạp chí Xưa và Nay; ông Hoàng Hải Âu, Giám đốc Công ty Cổ phần Giải pháp thị trường Hoàng Gia Việt Nam.
Chúng tôi xin giới thiệu những ý chính mà các diễn giả đã nêu ra tại cuộc tọa đàm - được đánh giá là đã mang lại một cái nhìn toàn cảnh và nhiều chiều hơn về vấn đề xây dựng hình ảnh doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay.
Ngày càng nhiều doanh nghiệp có ý thức xây dựng hình ảnh
(Ông Nguyễn Thế Quang, Anh hùng Lao động, Phó chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội)
Năm 1992, khi tôi được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc một doanh nghiệp dệt may, đất nước chúng ta mới bước vào giai đoạn đổi mới. Ngành dệt may của chúng ta cũng còn rất nhỏ bé và đầy khó khăn khi mất thị trường cung cấp và tiêu thụ lớn là Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu. Tuy nhiên, ngay từ thời kỳ đó, chúng tôi đã được nhiều khách hàng lớn dành tặng những lời khen ngợi như: “Công ty đã thành công trong quá trình hợp tác lâu dài với chúng tôi để thiết lập một trong những nhà máy tốt nhất ở Việt Nam, nếu không muốn nói là một trong những nhà máy tốt nhất thế giới”. Hoặc: “Công ty đã trở thành một trong những công ty sản xuất hàng may mặc có tiếng tăm nhất ở Việt Nam và Nam Á.”
Để có được những lời khen ngợi đó, hàng nghìn cán bộ và công nhân của chúng tôi đã phải “lao tâm khổ tứ” tốn nhiều công sức để làm ra hàng triệu sản phẩm có chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Doanh nghiệp chúng tôi ngày càng có thêm nhiều khách hàng, và hầu hết đều là những tên tuổi lớn, khắt khe về yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, thẩm mỹ . Trong con mắt của các đối tác lúc ấy, chúng tôi đã xây dựng được hình ảnh tốt đẹp doanh nghiệp có uy tín và chất lượng hoàn hảo. Hầu hết các nhãn hiệu thời trang hàng đầu thế giới khi đi tìm đối tác sản xuất tại Việt Nam đều tìm đến công ty của chúng tôi.
Từ 1996, công ty chúng tôi thực hiện chuyển hướng mang tính chiến lược: Chuyển dần từ sản xuất gia công sang nhà sản xuất kinh doanh thương mại (mua nguyên liệu bán thành phẩm). Chương trình từng bước thành công, bắt đầu trong thị trường nội địa là nhà sản xuất với các sản phẩm có chất lượng hàng xuất khẩu. Để có thành công đó, chúng tôi đã đầu tư đúng hướng và có nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên công ty. Nhưng một điều không thể không kể đến, đó là hoạt động xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp. Tôi thực sự tự hào vì công ty chúng tôi là một trong những đơn vị có ý thức xây dựng hình ảnh ngay từ những năm đầu hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Chúng tôi đã cùng nhà tư vấn của mình - Công ty Cổ phần Giải pháp thị trường Hoàng Gia Việt Nam xây dựng chiến lược phát triển hình ảnh và phát triển thương hiệu từ thời kỳ đó. Xin lưu ý rằng cho tới cuối năm 2002, vấn đề thương hiệu mới được đặt ra phổ biến tại Việt Nam .
Câu chuyện về hoạt động doanh nghiệp của tôi chỉ nhằm khẳng định một thực tế rằng cách mọi người nhìn doanh nghiệp như thế nào là do cách mà doanh nghiệp thể hiện ra. Và để khách hàng tìm tới, doanh nghịêp phải xây dựng một diện mạo tích cực cho mình.
Bây giờ, với tư cách là một người quản lý nhà nước về kinh tế của thành phố Hà Nội, trong thời gian qua tôi đã làm việc với hàng ngàn doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đặc biệt, ở cương vị Trưởng ban Đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước của Thủ đô, tôi đã cùng với các chuyên gia nghiên cứu rất kỹ để có thể đánh giá đúng thực trạng hoạt động của hàng trăm doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố để sắp xếp và đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp này. Điều tôi rất mừng là hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp thực sự có ý thức trong việc xây dựng và phát triển hình ảnh của doanh nghiệp trước con mắt khắt khe của thị trường. Và tôi thực chứng rằng các doanh nghiệp có ý thức đó và cách làm đúng đều gặt hái được những thành công.
Thành phố Hà Nội có trên 30 nghìn doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hoạt động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Để xây dựng được hình ảnh - thương hiệu của mình, các doanh nghiệp phải tự lực, tự cường, phải cạnh tranh quyết liệt. Chúng ta vui mừng là hầu hết các doanh nhân đã nhận ra được điều đó. Tuy nhiên không ít doanh nghiệp còn đang lúng túng tìm đường đi. Vì vậy, họ rất cần đến các nhà tư vấn, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn.
Chính quyền thành phố Hà Nội đang cố gắng xây dựng môi trường kinh doanh tốt cho các doanh nghiệp. Gần đây, Thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo Xây dựng và phát triển thương hiệu để thống nhất chỉ đạo và quản lý công tác này trên toàn địa bàn Thành phố. Chúng tôi cũng đang xây dựng một số cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp xây dựng và phát triển thương hiệu. Trong tương lai, sẽ có nhiều doanh nghiệp không chỉ được mang thương hiệu của mình, mà còn được mang danh hiệu doanh nghiệp Thủ đô.
Hình ảnh doanh nghiệp quyết định thành bại của doanh nghiệp
(Ông Hoàng Hải Âu, Giám đốc Công ty Cổ phần Giải pháp thị trường Hoàng Gia Việt Nam )
Khi nói đến Coca Cola, người ta nhớ đến một tập đoàn toàn cầu chuyên sản xuất và kinh doanh nước giải khát. Người ta nhớ đến logo của hãng với hàng chữ Coca Cola mềm mại, mang màu đặc trưng là màu đỏ và xuất hiện gần như khắp nơi trên toàn cầu. Người ta cũng nhớ đến Coca Cola như một hãng sở hữu nhiều thương hiệu nổi tiếng khác nhau như: Coca Cola, Fanta, Sprite, Joy, với những chương trình quảng cáo thường rất hay và vui nhộn…
Ở Việt Nam, khi nói đến Samsung, người ta thường nghĩ đến một tập đoàn sản xuất đồ điện tử với các loại sản phẩm chính như TV, máy tính, và gần đây là điện thoại di động, tất cả đều mang thương hiệu Samsung, màu đặc trưng là màu xanh dương, các quảng cáo của Samsung thường rất đẹp và ấn tượng…
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng hình ảnh doanh nghiệp là diện mạo của một doanh nghiệp được xác định thông qua tất cả các yếu tố mang tính thông tin cho phép ta phân biệt một doanh nghiệp này với một doanh nghiệp khác (Tổng công ty Thép Việt Nam, Tổng công ty Sữa Việt Nam, Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội…). Nói cách khác, hình ảnh doanh nghiệp chính là sự nhìn nhận của cộng đồng về một doanh nghiệp thông qua các thông tin mà doanh nghiệp ấy thể hiện ra, dù họ có hay không có chủ định. Cần nhấn mạnh rằng mỗi đối tượng khác nhau (người tiêu dùng, đối tác, chính quyền và các cơ quan chức năng…) sẽ có một mối quan tâm và cách nhìn nhận khác nhau đối với hình ảnh doanh nghiệp.
Các nghiên cứu công phu đã cho thấy, ngày nay hình ảnh doanh nghiệp đóng một vai trò mang tính quyết định đối với thành bại của doanh nghiệp. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định người tiêu dùng quyêt định mua hàng dựa trên nhận thức của họ về thương hiệu nhiều hơn là tính thực tế của bản thân sản phẩm… Chẳng hạn, một nghiên cứu khá quy mô về người tiêu dùng trên phạm vi toàn nước Mỹ cho thấy 89% người tiêu dùng cho rằng danh tiếng công ty là yếu tố quyết định trong việc chọn mua sản phẩm. Đúng như lời một giám đốc marketing của một tập đoàn hàng đầu tại nước Mỹ: “Lợi thế cạnh tranh bền vững duy nhất của bất kỳ ngành kinh doanh nào chính là danh tiếng của nó”.
Hình ảnh tích cực của doanh nghiệp sẽ tạo nên danh tiếng và uy tín của doanh nghiệp, từ đó mang lại giá trị thương hiệu của công ty và góp phần hỗ trợ mạnh mẽ cho các thương hiệu sản phẩm của công ty. Và ngược lại, trong một mối quan hệ tương hỗ, chính các thương hiệu sản phẩm mạnh sẽ hỗ trợ rất lớn cho danh tiếng của công ty. Doanh nghiệp có thương hiệu mạnh thì dễ nổi tiếng và ngược lại doanh nghiệp nổi tiếng sẽ dễ dàng xây dựng được thương hiệu mạnh.
Trong thực tế hiện nay, một doanh nghiệp có thể sở hữu một hoặc nhiều thương hiệu khác nhau. Nhưng việc xây dựng hình ảnh doanh nghiệp và phát triển thương hiệu luôn luôn không thể tách rời. Đó chính là bài học thành công của những doanh nghiệp phát triển hàng đầu hiện nay ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới.
Doanh nghiệp cần nỗ lực xây dựng hình ảnh tích cực
(TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội)
Gần đây chúng ta đều rất quen với thuật ngữ thương hiệu. Theo đó thì khái niệm xây dựng hình ảnh doanh nghiệp cũng được nhắc tới rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hình ảnh doanh nghiệp được hiểu là suy nghĩ, cảm nhận của người khác, tức là của người tiêu dùng, của các cơ quan quản lý Nhà nước, đối tác làm ăn về doanh nghiệp, chứ không phải là của chính doanh nghiệp đánh giá về mình. Mỗi doanh nghiệp dù nhỏ bé nhất đều phải nhận biết về vai trò hình ảnh doanh nghiệp và nỗ lực xây dựng hình ảnh của mình.
Cần chú ý rằng cho dù bạn không có ý thức xây dựng hình ảnh doanh nghiệp, dù ít dù nhiều, thị trường vẫn có cái nhìn về bạn. Có những yếu tố “âm thầm” tạo ra hình ảnh doanh nghiệp như logo của doanh nghiệp, cách đóng gói sản phẩm, trang phục, tác phong của cán bộ, nhân viên..., thậm chí cả những thứ nhiều người ít khi nghĩ tới như danh thiếp, kiểu dáng cửa hàng, thậm chí mùi của cửa hàng...
Hình ảnh doanh nghiệp chính là cơ sở để khách hàng hướng tới việc tiếp nhận thông điệp của doanh nghiệp. Với các doanh nghiệp dịch vụ thì hình ảnh còn quan trọng hơn một bậc. Bạn và các đồng nghiệp chính là hình ảnh của doanh nghiệp. Hình ảnh giúp xây dựng uy tín. Nhưng hãy nhớ rằng uy tín và hình ảnh là hai thứ khác nhau, uy tín chỉ là một phần của hình ảnh mà thôi.
Hình ảnh doanh nghiệp gắn liền với sự định vị sản phẩm và thị trường, có ảnh hưởng tới hiệu quả của họat động tiếp thị. Hiệu quả của các thông điệp nhất quán với hình ảnh doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghịêp tiết kiệm thời gian và tiền bạc bởi các thông điệp sẽ hỗ trợ cho nhau, hỗ trợ việc bán các sản phẩm. Hình ảnh doanh nghiệp tích cực còn giúp doanh nghiệp lôi cuốn các khách hàng và nhân viên có chất lượng, làm vừa lòng các nhà đầu tư. Và đặc biệt là việc dọn đường cho sự ra đời của các sản phẩm mới...
Văn hóa doanh nghiệp chính là “đạo làm giàu”
(Ông Dương Trung Quốc, Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tổng biên tập tạp chí Xưa và Nay)
Nói đến “văn hóa doanh nhân” hay “văn hóa doanh nghiệp”, chúng ta rất dễ sa vào một xu thế đang thời thượng là dường như toàn xã hội đang đi tìm cái căn cước văn hóa của mình. Điều đó phần nào cũng cho thấy, chúng ta ngày càng nhận thức được vị thế của văn hóa không chỉ là mục tiêu hướng tới của sự phát triển mà còn là động lực cho sự phát triển. Ngay trong các văn kiện cơ bản nhất của Đảng và Nhà nước cũng đề cập tới nguyên lý ấy.
Nhưng để có một định nghĩa mạch lạc cho khái niệm “văn hóa doanh nhân” (hay doanh nghiệp) không hẵn đã dễ dàng, bởi lẽ về ngữ nghĩa thì ngay như khái niệm “văn hóa” cũng có đến cả vài trăm cách định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên cứ theo cách nói cổ điển của các cụ nhà ta thì đơn giản, đó là “đạo làm giàu”, nói cách khác, đã kinh doanh thì phải có lãi, nói theo ngôn ngữ kinh tế học hiện đại là phải tạo ra giá trị thặng dư. Thì chính cái con đường, cái cách làm ra giá trị thặng dư trong sản xuất và lưu thông ấy nó là cái “đạo” của doanh nhân, doanh nghiệp hay doanh thương.
Cái không may mắn ở ta là do những đặc điểm lịch sử, trong xã hội truyền thống của chúng ta kinh tế thị trường phát triển chậm và muộn. Ngoài sản xuất nông nghiệp, lưu thông hàng hoá trên thị trường phổ biến qua các chợ làng, buôn bán lớn hơn giao thương qua các vùng miền (tức là qua khỏi lũy tre làng) không nhiều và không lớn, dần dà trên nhiều lĩnh vực qua bàn tay Hoa thương. Người Hoa lại là một chủng tộc khôn ngoan và sẵn có truyền thống trên doanh trường. Do vậy, khi kinh tế tư bản chủ nghĩa vào ta cùng với chế độ thuộc địa, những người cấp tiến thấy được doanh trường là một lợi khí làm giàu cho mình và cho nước, trong bối cảnh nước thì đang mất vào tay ngoại bang, doanh trường thì đang trong tay kẻ khác.
“Đạo làm giàu” nảy sinh từ đấy, vừa có cái triết lý cổ điển của nhà nho (tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) lại vừa có cái hận nghèo nghèn của kẻ “vong quốc nô”. Do vậy mà cái “đạo làm giàu” ở lớp người gắn việc công thương với tinh thần Duy tân ở đầu thế kỷ trước đã sớm hình thành như một trào lưu của tinh thần dân tộc. Người sớm dùng khái niệm “đạo làm giàu” là cụ Cử Lương Văn Can, người đã sớm truyền bá tư tưởng này khi lập Đông Kinh Nghĩa Thục rồi cùng gia đình thực hành khi bị thực dân đày ải ở Nam Vang (Phnom Penh - Campuchia)... Cụ từng viết sách dạy đồng bào đi buôn và cũng là truyền bá cái đạo làm giàu của mình. Cụ từng viết rằng: “Cổ nhân thường khinh sự buôn là mạt nghệ, bởi vì người đời xưa trọng đạo đức mà khinh công lợi, thấy người buôn tham lợi mà ít nói thực, sợ mất cái lòng đạo đức đi...”
Từ cái gốc ấy, cụ Cử luận về cách làm thế nào mà làm giàu nhưng không để đánh mất cái đạo đức của đời thường. Hơn thế cụ còn gắn thêm cái mục đích làm giàu không chỉ để “vinh thân phì gia” mà còn biết làm việc nghĩa với đồng bào và kín đáo (vì khi đó đã mất nước) hô hào giúp nước.. Đó là cái gốc của văn hóa là phương thức ứng xử xã hội để hướng tới mục tiêu xã hội.
Chính trên cái nhìn văn hóa ấy, mà cụ Cử đã nhận chân ra cái hạn chế của người Việt Nam ta thuở đó trên doanh trường: “Người mình không có thương phẩm - Không có kiên tâm - Không có nghị lực - Không biết trọng nghề - Không có thương học - Kém đường giao thiệp - Không biết tiết kiệm - Khinh nội hóa”....
Nhắc lại cái thuở ban đầu và những bài học tư tưởng như mới là vỡ lòng ấy mà vẫn cảm thấy sự sâu sắc của nó, ấy chính là văn hóa vậy. Bởi nếu thử lấy đó là tấm gương soi thì ta thấy diện mạo doanh nhân và doanh nghiệp của ta vẫn chưa khác bao nhiêu. Bởi lẽ văn hóa là cái gì đó lâu bền. Nhìn rõ cái phản diện thì sẽ nhận ra cái chính diện của mình và phấn đấu, gìn giữ nó như một cái giá trị lâu bền. Tạm đưa ra một cách nhận thức mang tính lịch sử như vậy về cái mà chúng ta gọi là “văn hóa doanh nhân” hay “văn hóa doanh nghiệp”....
Sử dụng lợi thế của truyền thông
(GS. Đào Nguyên Cát, Tổng biên tập Thời báo Kinh tế Việt Nam )
“Hình ảnh doanh nghiệp là một khái niệm rộng và khó phân biệt rạch ròi giữa các yếu tố cấu thành. Đó có thể là sự tổng hòa các mối quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng, với xã hội; là sự gắn kết giữa thương hiệu, văn hóa doanh nghiệp với sự thành công trong kinh doanh… Có nhiều quan điểm khác nhau song có thể thống nhất rằng: Hình ảnh doanh nghiệp là sự phản ánh chính xác nhất vị trí của doanh nghiệp trong tương quan với các đối thủ cạnh tranh, trong đánh giá của khách hàng, trong vị thế khu vực và trên thế giới.
Tầm quan trọng của việc xây dựng hình ảnh doanh nghiệp vẫn thường được đặt ngang hàng với việc hoạch định chiến lược kinh doanh, bởi nó góp phần quyết định đời sống, sự thành bại của doanh nghiệp. Và một trong những giải pháp để xây dựng hình ảnh đó thành công là sử dụng lợi thế của truyền thông. Bởi hình ảnh doanh nghiệp là một thông điệp, thông điệp đó được chuyển tải dưới nhiều hình thức, qua các kênh khác nhau, trong đó không thể phủ nhận tính hiệu quả qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Giá trị xuất phát của thông điệp từ doanh nghiệp và giá trị đến với đối tượng tiếp nhận có đồng nhất? Điều này phụ thuộc vào hiệu quả truyền thông. Nói cách khác, các phương tiện truyền thông có thể đề cao, hạn chế, thậm chí bóp méo giá trị thông điệp đó khi đến đối tượng tiếp nhận.
Trong những năm gần đây, đa số doanh nghiệp xác định truyền thông là phương tiện hiệu quả nhất trong việc xây dựng và quảng bá hình ảnh của mình. Đó là các chương trình quảng cáo, tuyên truyền trên báo chí, tham gia hội chợ triển lãm, tài trợ, thông qua hoạt động giao tiếp cộng đồng... Tôi đồng ý với quan điểm của một số chuyên gia trên thế giới khi sử dụng hình ảnh “bà đỡ” để nói về vai trò của truyền thông đối với các sản phẩm, kế hoạch kinh doanh, rộng hơn là hình ảnh của doanh nghiệp… Bởi khi đã đóng vai trò “bà đỡ”, truyền thông trở thành một lực lượng chính hậu thuẫn cho những thành công của doanh nghiệp. Nhưng mặt khác, cũng phải thấy rằng thành công của doanh nghiệp chỉ có thể bắt nguồn từ gốc rễ là chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp đó.
Thời báo Kinh tế Việt Nam là một trong những ấn phẩm chuyên về kinh tế hàng đầu của Việt Nam , luôn sát cánh cùng sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp. Với 7 ấn phẩm phát hành toàn quốc, chúng tôi đã góp phần vào việc tạo một kênh thông tin phong phú, kịp thời, đầy đủ về diện mạo và đời sống kinh tế Việt Nam.
Mặt khác, chính sự đa dạng trong các ấn phẩm đã tạo khả năng thông tin linh hoạt về hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp nói chung và hình ảnh của những doanh nghiệp cụ thể. Đặc biệt, các giải thưởng uy tín như giải Rồng Vàng, dành cho khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, giải thưởng The Guide dành cho khối doanh nghiệp trong ngành du lịch - dịch vụ và giải Thương hiệu Mạnh do Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức hàng năm cũng là những hoạt động truyền thông hiệu quả, góp sức xây dựng và quảng bá hình ảnh doanh nghiệp đến công chúng và bạn bè trên thế giới”.
(Theo Vneconomy)==============================================================
Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, dù sản phẩm chất lượng tốt nhưng các chủ Doanh nghiệp vẫn quyết định “phung phí” ngân sách cho quảng cáo. Có phải họ đang làm một việc thừa? Và có một “nghịch lý” là khi doanh thu càng cao thì ngân sách dành cho quảng cáo của Doanh nghiệp càng lớn. Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên khi lật giở các trang báo, xem truyền hình, nghe đài phát thanh… thậm chí đi trên phố cũng có thể dễ dàng bắt gặp quảng cáo dưới đủ mọi hình thức và phong cách thể hiện.
Công ty cổ phần Truyền thông và Thương mại Ý Lâm (Ideawood Media & Trading., Jsc) tự hào là nhà tư vấn đắc lực cho Doanh nghiệp lựa chọn các loại hình quảng cáo phù hợp với ngân sách trong từng thời điểm như: quảng cáo trên truyền hình; quảng cáo trên đài phát thanh; quảng cáo trên báo giấy, báo mạng; quảng cáo ngoài trời (tờ rơi, pano, áp phích…). Chúng tôi sẽ đưa thông điệp quảng cáo của Doanh nghiệp tiếp cận “Mục tiêu 3R”: Right people (đúng đối tượng), Right place (đúng thị trường), Right time (đúng thời điểm).
Từ quá trình tư vấn đó, chúng tôi sẽ nắm bắt rõ yêu cầu của Doanh nghiệp khi thực hiện quảng cáo. Đối với chúng tôi, quảng cáo gây ấn tượng với người xem không chỉ bởi hình ảnh, màu sắc, âm thanh mà quan trọng là ý tưởng quảng cáo. Ideawood Media trân trọng ý tưởng, kể cả những ý tưởng “điên rồ” để từ đó tạo ra một sản phẩm quảng cáo – dù dưới hình thức nào – cũng trở nên độc đáo, hấp dẫn và đạt hiệu quả tốt nhất.
Ideawood Media tự tin sẽ giúp Doanh nghiệp đạt doanh thu cao nhất với sức mạnh của quảng cáo.
Tel: 0983 784 398(Hoài Thanh); Email: b2b.tradevn@gmail.com
Phân tích Pest và phân tích Swot
Tác giả: Hoài Thanh
| Đăng:
Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2010
,chuyên đề:
Kiến thức kinh doanh
|
nhận xét (0)
Phân tích Swot thì không liên quan nhiều đến RnD nên chỉ nói lướt qua. Swot là viết tắt của 4 yếu tố trong ngoài cần phân tích trước khi tiến hành làm 1 thị trường đó là các yếu tố:
S: Strengths: Điểm mạnh của công ty
W:Weaknesses: Điểm yếu của công ty
Đây là 2 yếu tố dễ nhận ra vì nó nằm trong công ty, tuy nhiên nhiều khi không phải ai cũng "Biết mình"
O: Opportunities: Cơ hội thị trường
T: Threads: Những đe dọa đến từ bên ngoài
Đây là 2 yếu tố bên ngoài, khó nắm bắt hơn. Nếu biết được coi như là "Biết người"
Trong quá trình lập kế hoạch, chiến lược, tổ chức xác định mục tiêu hàng đầu của kế hoạch là gì và sử dụng công cụ phân tích SWOT để đánh giá khả năng đạt mục tiêu đó. Phân tích các thế mạnh và điểm yếu là phân tích những yếu tố bên trong ảnh hưởng tới khả năng đạt mục tiêu. Còn phân tích những cơ hội và thách thức là phân tích các yếu tố của môi trường xung quanh. Việc áp dụng công cụ phân tích SWOT có thể tiến hành bằng cách lập sơ đồ SWOT để liệt kê các yếu tố.
Sau khi đã liệt kê được các yếu tố ảnh hưởng, tổ chức có thể dùng công cụ USED để định hướng các biện pháp nhằm khai thác (Use) các điểm mạnh, khắc phục (Stop) các điểm yếu, khai thác (Exploit) các cơ hội và đương đầu (Defend) với các thách thức.
Sơ đồ của SWOT:

Phân tích Pest thì có hơi khác. Nó đả động nhiều đến các thành tố môi trường và hỗn hợp luôn cả nội lực công ty trước môi trường biến động.
Các yếu tố của pest là:
S: Strengths: Điểm mạnh của công ty
W:Weaknesses: Điểm yếu của công ty
Đây là 2 yếu tố dễ nhận ra vì nó nằm trong công ty, tuy nhiên nhiều khi không phải ai cũng "Biết mình"
O: Opportunities: Cơ hội thị trường
T: Threads: Những đe dọa đến từ bên ngoài
Đây là 2 yếu tố bên ngoài, khó nắm bắt hơn. Nếu biết được coi như là "Biết người"
Trong quá trình lập kế hoạch, chiến lược, tổ chức xác định mục tiêu hàng đầu của kế hoạch là gì và sử dụng công cụ phân tích SWOT để đánh giá khả năng đạt mục tiêu đó. Phân tích các thế mạnh và điểm yếu là phân tích những yếu tố bên trong ảnh hưởng tới khả năng đạt mục tiêu. Còn phân tích những cơ hội và thách thức là phân tích các yếu tố của môi trường xung quanh. Việc áp dụng công cụ phân tích SWOT có thể tiến hành bằng cách lập sơ đồ SWOT để liệt kê các yếu tố.
Sau khi đã liệt kê được các yếu tố ảnh hưởng, tổ chức có thể dùng công cụ USED để định hướng các biện pháp nhằm khai thác (Use) các điểm mạnh, khắc phục (Stop) các điểm yếu, khai thác (Exploit) các cơ hội và đương đầu (Defend) với các thách thức.
Sơ đồ của SWOT:
Phân tích Pest thì có hơi khác. Nó đả động nhiều đến các thành tố môi trường và hỗn hợp luôn cả nội lực công ty trước môi trường biến động.
Các yếu tố của pest là:
Chính trị (Political factors) Kinh tế (Economic Factors) Văn hóa xã hội (Sociocultural Factors) và cuối cùng là của RnD đây: Công nghệ (Technological factors).
1. Về chính trị cần xem xét:
a .Môi trường chính trị có ổn định không?
b. Chính sách của chính phủ ảnh hưởng thế nào đến ngành và mức thuế của ngành?
c. Vai trò của chính phủ trong marketing đạo đức xã hội (Có cho quảng cáo thuốc lá, rượu hay không chẳng hạn, nó mang tính đạo đức xã hội mà ka ka.Nếu không thì có thể quảng cáo bán thân ngay trên tv chứ chả chơi)?
d. Chính phủ làm gì và có vai trò gì tác động vào nền kinh tế?
e. Tầm nhìn của chính phủ về vấn đề văn hóa và tôn giáo thế nào?
f. Chính phủ có tham gia các tổ chức kinh tế thế giới không( WTO, v.v...) ?
1. Về chính trị cần xem xét:
a .Môi trường chính trị có ổn định không?
b. Chính sách của chính phủ ảnh hưởng thế nào đến ngành và mức thuế của ngành?
c. Vai trò của chính phủ trong marketing đạo đức xã hội (Có cho quảng cáo thuốc lá, rượu hay không chẳng hạn, nó mang tính đạo đức xã hội mà ka ka.Nếu không thì có thể quảng cáo bán thân ngay trên tv chứ chả chơi)?
d. Chính phủ làm gì và có vai trò gì tác động vào nền kinh tế?
e. Tầm nhìn của chính phủ về vấn đề văn hóa và tôn giáo thế nào?
f. Chính phủ có tham gia các tổ chức kinh tế thế giới không( WTO, v.v...) ?
2. Đó là Kinh tế:
Cần chú trọng mấy cái này:
a. Lãi suất.
b. Mức độ đầu tư, lạm phát và nhân công.
c. Triển vọng lâu dài của GDP trên đầu tư, và các thứ khác.
Cần chú trọng mấy cái này:
a. Lãi suất.
b. Mức độ đầu tư, lạm phát và nhân công.
c. Triển vọng lâu dài của GDP trên đầu tư, và các thứ khác.
3. Văn hóa xã hội.
a. Đâu là tôn giáo phổ biến (Ở Ấn độ mà đi bán thịt bò thì bị thịt ngay đó)?
b. Thái độ tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ nhập khẩu (Quê ta chỉ thích hàng Tây)?
c. Ngôn ngữ ngoại lai có ảnh hưởng thế nào đến thị trường (Cứ tên Tây bán chạy hơn tên Ta)?
d. Mỗi sản phẩm có được ưa chuộng lâu hay thích thay đổi?
e. Vai trò của đàn ông và đàn bà trong xã hội?
f. Tuổi của dân số? Ông bà già giàu hay lớp trẻ giàu?
g. Thái độ dân chúng mạnh hay yếu trong việc tiêu tiền?
(Thấy bài viết khá hay nên mình sưu tầm ai quan tâm thì xem nhé!)
COD như một công cụ hỗ trợ cho thương mại điện tử
Tác giả: Hoài Thanh
| Đăng:
Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2010
,chuyên đề:
Kiến thức kinh doanh
|
nhận xét (0)
COD(phát hàng thu tiền) là một lĩnh vực dịch vụ ra đời từ khá sớ trên thế giới và có một sức sống bền bỉ đến tận thời điểm này. Đây có thể được coi là một dẫn chứng cho tính khả thi của nó cho dù nó là một công cụ hỗ trợ cho thương mại điện tử hay là một lĩnh vực dịch vụ riêng nằm trong nhóm dịch vụ mua hàng qua bưu điện. Dưới đây là một bảng so sánh sự khác biệt giữa thương mại điện tử và mua hàng qua bưu điện:
Nét khác biệt Mua hàng qua bưu điện Thương mại điện tử
Nhận biết hàng hóa Qua Cartoluge, báo chí … Qua Website, Blog, Forum…
Thanh toán Qua trung gian: bưu điện, đại lý ủy thác… Qua thẻ tín dụng, hệ thông Paypal…
Thông qua Bảng so sánh này, có thể kết luận: Thương mại điện tử là sự phát triển trên cơ sở kế thừa của dịch vụ mua hàng qua bưu điện mà trong đó mạng toàn cầu và những phương pháp thanh toán tiên tiến tạo nên sự khác biệt giữa chúng.
Và cũng với Bảng trên, chúng ta sẽ thấy viễn cảnh của Thương mại điện tử còn có nhiều bất cập bởi hai nguyên nhân được coi là trọng yếu nhất: Giải pháp thanh toán và tâm lý của người tiêu dùng.
Dịch vụ COD cùng lúc hạn chế được cả hai vấn đề trên do:
Người mua hàng được trực tiếp thấy hàng và quyết định có mua hàng hay không khi bên cung cấp dịch vụ COD giao hàng tới;
Cả người bán hàng và mua hàng đều tiết kiệm được thời gian, công sức do được nhà cung cấp dịch vụ COD đứng ra là trung gian giao dịch.
Tuy vậy, COD cũng mang lại những phiền toái đáng kể và chủ yếu là đối với người bán nếu không có những thoả thuận rõ ràng với người mua khi người mua không đồng ý nhận hàng. Trong trường hợp này, bất lợi từ những chi phí của dịch vụ COD sẽ hoàn toàn thuộc về người bán.
Đó là chưa kể đến những phiền phức cho người bán hàng đến từ phía những nhà cung cấp dịch vụ COD:
Nhà cung cấp dịch vụ COD chậm thanh toán cho người bán hàng làm mất đi tính chủ động trong việc quản lý dòng tiền mặt;
Tỷ lệ xác định cước COD còn quá cứng nhắc có thể sẽ quá cao với những món hàng có giá trị lớn.
PHƯƠNG HƯỚNG KHẮC PHỤC CHO COD TẠI VIỆT NAM
Nếu chúng ta đã đọc Quy trình tác nghiệp điện tử dịch vụ chuyển tiền (Chương trình CT2003) của Bưu điện thì sẽ thấy những hạn chế đối với dịch vụ COD đến từ sự phức tạp của các khâu phối hợp.
Nhận biết được điều đó, chúng ta có thể có những hướng khắc phục dưới đây:
Đơn giản hóa cách tính cước dịch vụ như: Gộp cước thư chuyển tiền vào một loại cước COD. Làm như vậy sẽ làm cho tâm lý người bán hàng và mua hàng cảm nhận được sự đơn giản và minh bạch trong cách tính cước;
Tỷ lệ tính cước COD cũng nên chia thành các nấc để người bán hàng và mua hàng không phải chịu những bất lợi khi chuyển những hàng hóa có giá trị cao.
Nhưng cách khắc phục triệt nhất đối với những nhà cung cấp dịch vụ COD là cần tổ chức nghiên cứu để xây dựng, chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ cũng như khắc phục những hạn chế do áp dụng cứng nhắc quy trình cung cấp COD cổ điển vào Việt Nam.
Khái niệm về dịch vụ phát hàng thu tiền(COD)
Tác giả: Hoài Thanh
| Đăng:
Thứ Năm, 4 tháng 3, 2010
,chuyên đề:
Kiến thức kinh doanh
|
nhận xét (0)
Vậy COD hay Phát hàng thu tiền là gì?
Theo từ điển Acronym Finder: COD được viết tắt từ Cash On Delivery (Shipping)
Còn tại những nước Bắc Mỹ, COD được hiểu là: Collect On Delivery
Ở Việt Nam, tại Thông tư số 01/2007/TT-BCVT do Bộ Bưu chính Viễn thông ban hành ngày 03/01/2007 đã định nghĩa tại điểm e, điều 1.2 về Dịch vụ Phát hàng thu tiền như sau: Là dịch vụ trong đó người gửi bưu phẩm, bưu kiện yêu cầu Bưu chính Việt Nam thu hộ một khoản tiền từ người nhận khi phát bưu phẩm, bưu kiện tới người nhận hoặc địa chỉ nhận.
Dịch vụ phát hàng thu tiền nằm trong nhóm các dịch vụ mua hàng qua bưu điện và được biết từ khá lâu trên trên thế giới: Theo tư liệu lịch sử của Hãng chuyển phát hàng đầu thế giới UPS, năm 1922, là lần đầu tiên UPS đã chấp nhận séc người gửi theo phương thức thanh toán COD. Và cho đến nay, COD vẫn được nhiều hệ thống bưu chính áp dụng. Có thể tham khảo thêm nguyên văn bản tiếng Anh tại các Website của Bưu điện Úc và Canada:
With Parcel Post’s safe, reliable C.O.D service you can opt to have our staff collect either postage and fees only, or full payment for the item delivered – or both. This service enables you to fulfil orders and deliver goods to customers who don’t have an account with you.
C.O.D. is easy to use. Take your parcel to your postal outlet and complete a lodgment slip. The article will be delivered to the postal outlet closest to the recipient’s address, and the recipient will be informed that there is a C.O.D. item awaiting collection.
Australia Post will take delivery of your payment when it is collected, and return any payments to you by money order.
C.O.D offers free Extra Cover for items valued up to $100 and additional Extra Cover can be purchased for items valued between $100 and $5000.
COD is a service for domestic mail for which an amount due to the sender, up to $1,000, is collected from the addressee before delivery and returned to the mailer. It is a service available to consumer and business mailers. COD is available for parcels only or items mailed at parcel rates.
The amount collected from the addressee can include:
Amount representing the value of the item.
Service charge in the case of repairs.
Sales tax.
Postage.
COD fee and special service fees.
COD cannot be used to collect on items not ordered or requested by the addressee or to collect money owing on previous accounts. Indemnity is available up to $1,000. Items sent COD must abide by Canada Post mail preparation requirements. The amount of the COD collected from the addressee will be forwarded to the sender by Postal Money Order when payment is made by cash or by cheque drawn up by the addressee payable to the sender.
H on Delive
Qua hai ví dụ tham khảo trên, có thể kết luận: Phát hàng thu tiền là sự kết hợp của dịch vụ bưu gửi và dịch vụ chuyển tiền với hai công đoạn:
- Công đoạn đầu tiên, người gửi hàng tiến hành gửi hàng tới người nhận qua một hãng chuyển phát. Tiếp theo, hãng chuyển phát sẽ tiến hành gửi hàng tới cho người nhận bằng dịch vụ chuyển phát;
- Chi nhánh hay bưu cục của hãng chuyển phát phát hàng tới cho người nhận và người nhận tiến hành thanh toán tiền. Sau đó, chi nhánh hay bưu cục phát hàng tiến hành phát hành một ngân phiếu COD (tương tự như thư chuyển tiền) gửi đến cho người phát hàng. Kể từ lúc này, nghiệp vụ của dịch vụ COD sẽ tương tự như nghiệp vụ của dịch vụ thư chuyển tiền.
Quảng cáo qua Email - đâu là giải pháp?
Tác giả: Hoài Thanh
| Đăng:
Thứ Hai, 8 tháng 2, 2010
,chuyên đề:
Kiến thức kinh doanh
|
nhận xét (0)
Quảng cáo trực tuyến đang ngày càng phổ biến tại Việt Nam với nhiều hình thức đa dạng, từ Quảng cáo trên website cho đến Quảng cáo qua email. Quảng cáo trực tuyến tạo ra rất nhiều cơ hội hơn cho việc quảng bá dịch với sản phẩm của doanh nghiệp. Đồng thời, giúp doanh nghiệp giảm chi phí so với các kênh quảng bá truyền thống. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt ưu, nhiều hình thức Quảng cáo trực tuyến đang bị lạm dụng và gây tổn hại không nhỏ cho xã hội, người dùng Internet. Nổi cộm là thư Quảng cáo điện tử và thư rác (spam).
Qua email có rất nhiều ưu điểm, nhất là chi phí rẻ. Tuy nhiên, một thống kê cho thấy, 90% như Quảng cáo không cần thiết cho người đọc. Chi 5% là email tiếp thị cần thiết.
Phát tán công khai
Từ địa chỉ email có cái tên rất kêu Vietnam E-marketing, hàng ngày gửi đi khoảng hơn 2 triệu email tiếp thị với nội dung chào hàng hấp dẫn như: "Quý vị đã biết gì về công nghệ E-marketing chưa? Đó là công nghệ tạo ra khách hàng và quảng bá sản phẩm nhanh nhất hiện nay...". Cũng tử địa chỉ email này, người ta rao bán hơn 2 triệu địa chỉ email Việt Nam cùng một phần mềm có khả năng gửi 20.000 email/giờ. Chuyên nghiệp hơn, họ còn cung cấp các công cụ kiểm tra chất lượng, tìm kiếm các địa chi email khác hay quản lý địa chỉ email. Giá dịch vụ cài đặt và phần mềm để chạy chương trình chỉ vài trăm ngàn đồng. Không riêng địa chỉ này, hiện có hàng trăm nhà cung cấp tương tư sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng về Quảng cáo qua email. Thậm chí có nơi Quảng cáo có tới 9 triệu địa chỉ email Việt Nam. Theo lời Quảng cáo, họ nắm trong tay hầu như toàn bộ các địa chi email cửa các ISP tại Việt Nam cùng với các địa chỉ email của người Việt từ các dịch vụ email miễn phí khác... Việc liên hệ đến các nhà cung cấp này khá dễ dàng, số điện thoại, địa chỉ email của họ đều công khai. Hầu như các địa chỉ email ở Việt Nam, đều ít nhất một lần nhận được thư quảng bá của họ.
Với mức chi phí "rẻ như cho", hình thức Quảng cáo qua email hấp dẫn khá nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ, tiểu thương, cá nhân có nhu cầu mua bán... Cách đây hai năm, thư Quảng cáo hầu như đến từ nước ngoài thì hiện đang ngày càng xuất hiên nhiều thư Quảng cáo về sản phẩm, dịch vụ ở Việt Nam, từ dịch vụ lắp đặt, bảo hành, bán mỹ phẩm, thiết bị công nghiệp, sản phẩm điên tử, phần mềm... đến rao bán nhà đất trị giá vài trăm triệu đồng.
Quảng cáo qua email đang đi đến mọi ngóc ngách của cuộc sống bất chấp hiệu quả đo đếm được thế nào. Một doanh nghiệp tính toán rằng, để đến với hàng triệu khách hàng, nếu Quảng cáo qua truyền hình tốn trung bình 150 - 200 đồng/lượt người xem, báo giấy 80 - 100 đồng/lượt người đọc, website 20 - 60 đồng/lượt người xem. Còn nếu Quảng cáo qua email chi tốn 1 đồng/lượt khách hàng, thậm chí còn rẻ hơn nữa.
Lợi bất cập hại
Các loại email Quảng cáo gửi với số lượng lớn và không hữu ích với phần lớn người đọc được gọi chung là thư rác (spam). Hầu hết người dùng đang bội thực vì email Quảng cáo và bày tỏ sự khó chịu với nhưng email "không mời mà đến" này. Con số thư rác vào các hộp email ngày một tăng, có khi tới vài trăm email một ngày. Không chỉ thế, email còn đang dần trở thành công cụ để lừa đảo trực tuyến khi ngày càng có nhiều kẻ sử dụng email để phát tán virus, khủng bố bom thư (gửi nhiều thư gây ngẽn hệ thống), giả mạo để lừa đảo người dùng cung cấp mật khẩu, số tài khoản Ngân hàng... Với sự gia tăng từ những biến thái qua email, hiệu quả Quảng cáo qua hình thức này đang giảm mạnh.
Ông Vũ Bảo Thạch, Giám đốc Kỹ thuật của Misoft phân tích: "Nếu là người dùng, không phải trả tiền thì không thấy tổn hại lắm ngoài sợ khó chịu. Nhưng nếu là doanh nghiệp, tổ chức bạn se thấy thực sự thiệt hại. Thay vì chỉ phải trả tiền cho đường truyền, thiết bị lưu trữ đủ sử dụng đê tải thư công việc, Công ty lại phải tính dôi thêm phần lưu lượng để chứa thư rác. Không những thế lại phải phòng vệ thêm bằng việc mua các chương trình chống spam, chống virus…”.
Bên cạnh đó, thư rác còn kéo theo một số thiệt hại ngoài khả năng kiểm soát Như trường hợp một số hộp thư bị tê liệt, không sử dụng được do máy chủ của nhà cung cấp trong nước bị chặn do nằm trong danh sách đen (black list). Nguyên nhân cũng vì các máy chủ của Việt Nam thiếu hệ thống kiểm soát thư rác. Trong khi các hộp thư miễn phí của nước ngoài như Yahoo, Gmail lại làm rất tốt chuyện này.
Nỗ lực nào để ngăn chặn
Từ thực tế trên dẫn tới câu chuyện dài tập giữa người chống thư rác và kẻ tạo thư rác. Việc này được ví như giết con rắn có nhiều đầu, chẳng bao giờ có hồi kết vì giải pháp kỹ thuật nào đưa ra cũng chi hiệu nghiệm trong một thời gian nhất định. Vấn đề là phải có các nỗ lực chung, nhất là tử cơ chế chính sách của Nhà nước cho tới ý thức của doanh nghiệp, tổ chức trong việc quảng bá.
Tại một số nước tiên tiến như Anh, Úc, Mỹ... do sớm nhận thấy những tác hại của thư rác đã ban hành các dự luật, chi thị cấm Doanh nghiệp gửi emai tới người nhận cá nhân mà không có sư cho phép của họ hay đưa ra các khung hình phạt nặng để nghiêm tri đối với những kẻ gửi thư rác.
Việt Nam cho đến thời điểm này đang thiếu các quy định đối với Quảng cáo thương mại trực tiếp (tiếp thị) nói chung và qua các phương tiện điên tử nói riêng như email, điện thoại di động... Việt Nam cũng chưa có quy định nào bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nhất là quyền lơi riêng tư trong ọc qua phương tiên điện tử. Trong khi đó, hình thức Quảng cáo qua phương tiện điện tử sẽ còn phát triển nhanh chóng trong thời gian tới.
Trước những bất cập trên, Vụ Thương Mại Điện Tử , Bộ Thương mại đưa ra quan điểm phải sớm có văn bản hướng dẫn về lĩnh vực này nhằm điều chỉnh các hoạt động Quảng cáo qua thư điện tử, tin nhắn di động, trang tin điện tử... Tại buổi tọa đàm diễn ra ngày 16/8/2006 tại Hà Nội, đại diện các bên doanh nghiệp, người dùng Internet, Vụ Thương mại điện tử đều khẳng định tính cần thiết của văn bản trên. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, văn bản hướng dẫn cần mở rộng hơn tới các hình thức khác của Quảng cáo qua phương tiện điện tử chứ không nên cchỉ bó hẹp với Quảng cáo qua email.
Được biết, trong bản dự thảo thông tư hưởng dẫn trên, một số phương án xử phạt đã được đưa ra: mức xử hành chính từ 5 đến 20 triệu đồng và phương án căn cứ Nghị Định số 175 của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại.
(Theo Tạp chí Thế giới vi tính)
Khái niệm chiến lược kinh doanh
Tác giả: Hoài Thanh
| Đăng:
Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2010
,chuyên đề:
Kiến thức kinh doanh
|
nhận xét (0)
Khái niệm chiến lược kinh doanh
Nói cách khác, chiến lược là:
* Nơi mà doanh nghiệp cố gắng vươn tới trong dài hạn (phương hướng)
* Doanh nghiệp phải cạnh tranh trên thị trường nào và những loại hoạt động nào doanh nghiệp thực hiện trên thị trường đó (thị trường, quy mô)?
* Doanh nghiệp sẽ làm thế nào để hoạt động tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên những thị trường đó (lợi thế)?
* Những nguồn lực nào (kỹ năng, tài sản, tài chính, các mối quan hệ, năng lực kỹ thuật, trang thiết bị) cần phải có để có thể cạnh tranh được (các nguồn lực)?
* Những nhân tố từ môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (môi trường)?
* Những giá trị và kỳ vọng nào mà những người có quyền hành trong và ngoài doanh nghiệp cần là gì (các nhà góp vốn)?
Chiến lược tại các cấp độ khác nhau trong một doanh nghiệp.
Trong bất kỳ tổ chức nào, các chiến lược đều tồn tại ở vài cấp độ khác nhau - trải dài từ toàn bộ doanh nghiêp (hoặc một nhóm doanh nghiệp) cho tới từng các nhân làm việc trong đó.
Chiến lược doanh nghiệp – liên quan đến mục tiêu tổng thể và quy mô của doanh nghiệp để đáp ứng được những kỳ vọng của người góp vốn. Đây là một cấp độ quan trọng do nó chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà đầu tư trong doanh nghiệp và đồng thời nó cũng hướng dẫn quá trình ra quyết định chiến lược trong toàn bộ doanh nghiệp. Chiến lược doanh nghiệp thường được trình bày rõ ràng trong “tuyên bố sứ mệnh”.
Chiến lược kinh doanh - liên quan nhiều hơn tới việc làm thế nào một doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường cụ thể. Nó liên quan đến các quyến định chiến lược về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra được các cơ hội mới v.v..
Chiến lược tác nghiệp - liên quan tới việc từng bộ phận trong doanh nghiệp sẽ được tổ chức như thế nào để thực hiện được phương hướng chiến lược ở cấp độ công ty và từng bộ phận trong doanh nghiệp. Bởi vậy, chiến lược tác nghiệp tập trung vào các vận đề về nguồn lực, quá trình xử lý và con người v.v…
Chiến lược sẽ được kiểm soát như thế nào? – Quản trị chiến lược.
Theo nghĩa rộng nhất, quản trị chiến lược là quá trình thực hiện “các quyết định chiến lược” – đó là các quyết định trả lời được những câu hỏi phía trên. Trên thực tế, quá trình quản trị chiến lược hoàn chỉnh bao gồm 3 phần được mô tả trong biểu đồ sau:
Phân tích chiến lược
Phân tích chiến lược là phân tích về điểm mạnh về vị thế của doanh nghiệp và hiểu được những nhân tố bên ngoài quan trọng có thể ảnh hưởng tới vị thế đó. Quá trình phân tích chiến lược có thể được trợ giúp bằng những một số công cụ bao gồm: Phân tích PEST - kỹ thuật hiểu môi trường trong đó doanh nghiệp đang hoạt động.
Lập kế hoạch bao gồm nhiều phương án chọn - kỹ thuật xây dựng nhiều viễn cảnh khác nhau có thể xảy ra trong tương lai cho doanh nghiệp.
Phân tích 5 lực lượng - kỹ thuật xác định các lực lượng có thể ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh trong một ngành
Phân đoạn thị trường - kỹ thuật tìm kiếm cách xác định sự giống và khác nhau giữa các nhóm khách hàng hoặc người sử dụng. Ma trận chính sách định hướng - kỹ thuật tóm tắt lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp trên những thị trường cụ thể.
Phân tích đối thủ cạnh tranh - hàng loạt kỹ thuật và phân tích để tìm ra vị thế cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp
Phân tích nhân tố thành công then chốt - kỹ thuật nhằm xác định những khu vực mà môt doanh nghiệp cần phải làm tốt hơn để cạnh tranh thành công.
Phân tích mô hình SWOT - một kỹ thuật ngắn gọn hữu ích để tóm tắt những vấn đề then chốt ngảy sinh từ việc đánh giá môi trường bên trong tác động của môi trường bên ngoài đối với doanh nghiệp.
Lựa chọn chiến lược
Quá trình này liên quan tới việc hiểu rõ bản chất các kỳ vọng của những nhà góp vốn (“nguyên tắc cơ bản”) để xác định được các tuỳ chọn chiến lược, sau đó đánh giá và chọn lựa các tuỳ chọn chiến lược.
Thực hiện chiến lược
Đây thường là phần khó nhất. Khi một chiến lược đã được phân tích và lựa chọn, nhiệm vụ sau đó là chuyển nó thành hành động trong tổ chức.